những dòng lấp lánh trôi... Đi...i

9 thg 12, 2011

Những Nghịch Lý

Bản dịch của Hoàng Ngọc-Tuấn

EDUARDO GALEANO
(1940~)


Eduardo Galeano (1940~) là một trong vài nhà văn Uruguay nổi tiếng nhất hiện nay. Ông còn là nhà phê bình, sử gia và ký giả. Những tác phẩm đặc sắc của ông, như Memoria del fuego [1982-1986, Ký ức của lửa] Las venas abiertas de América Latina [1971, Những mạch máu mở của Mỹ La-tinh], đã được dịch ra hơn 20 ngoại ngữ. Nhiều tác phẩm của Galeano hầu như vượt khỏi lối phân định thể loại văn học thông thường, vì đó là một kết hợp của ký sự, hư cấu, bình luận chính trị, tài liệu báo chí và lịch sử.
 
14 tuổi, Galeano bán bức biếm hoạ chính trị đầu tay cho tuần báo El Sol. 16 tuổi, ông xuất bản bài tiểu luận đầu tay, rồi bỏ học, và bắt đầu làm nhiều việc khác nhau để mưu sinh. 20 tuổi, ông trở thành ký giả, rồi làm tổng biên tập cho tờ Marcha , một tuần báo gây ảnh hưởng lớn về văn hoá và chính trị, với sự cộng tác của những tên tuổi quan trọng như Mario Vargas Llosa, Mario Benedetti, Manuel Maldonado Denis và Roberto Fernández Retamar. Rồi ông biên tập cho nhật báo Épocha và làm tổng biên tập của University Press (1965-1973). Cuốn Las venas abiertas de América Latina [1971, Những mạch máu mở của Mỹ La-tinh] làm Galeano trở thành một trong những tác giả được đọc nhiều nhất ở Mỹ La-tinh. Sau vụ đảo chính năm 1973, ông bị bỏ tù và trục xuất khỏi Uruguay. Sang Argentina, ông thành lập và làm tổng biên tập tạp chí văn hoá Crisis.
 
Năm 1975, Galeano đoạt giải Casa de las Américas cho cuốn tiểu thuyết La cancion de nosotros [1975, Bài hát của chúng ta]. Sau vụ đảo chính ở Argentina năm 1976, tên tuổi ông nằm trong danh sách những người bị tử hình, nên ông chạy sang Tây-ban-nha, sống ẩn dật trên vùng bờ biển Catalan và khởi sự viết Memoria del fuego [1982-1986, Ký ức của lửa], một kiệt tác gồm ba tập (1. Los nacimientos [Khai sinh]; 2. Las caras y las máscaras [Những chân dung và mặt nạ]; 3. El siglo del viento [Thế kỷ của gió]) được giới phê bình so sánh với những kiệt tác của John Dos Passos và Gabriel García Márquez. Năm 1978, ông lại một lần nữa đoạt giải Casa de las Américas cho cuốn tự truyện Días y noches de amor y de guerra [1978, Ngày và đêm của tình yêu và chiến tranh].
 
Galeano trở về quê hương Montevideo vào đầu năm 1985, và tiếp tục sáng tác và xuất bản liên tục rất nhiều cho đến hôm nay. Ngoài hai giải thưởng Casa de las Américas (1975, 1978), ông còn được trao các giải thưởng quan trọng khác như: American Book Award (1989), và Cultural Freedom Award (1999, Lannan Foundation).
 
Tuỳ bút dưới đây, “Paradojas”, nằm trong cuốn El libro de los abrazos [1989, Sách của những vòng tay ôm]. Cuốn sách này là một kết hợp hết sức độc đáo của những ngụ ngôn, ký sự, nghịch thuyết, giai thoại, chiêm bao, và tự truyện.
 
________________________

NHỮNG NGHỊCH LÝ

Nếu sự mâu thuẫn là buồng phổi của lịch sử, thì nghịch lý, theo tôi nghĩ, chắc hẳn phải là tấm gương soi mà lịch sử dùng để trêu chọc chúng ta.
Ngay cả con trai của Chúa Trời cũng không thoát khỏi nghịch lý. Ngài đã chọn sinh quán là một sa mạc cận nhiệt đới nơi hầu như không bao giờ có tuyết rơi, thế nhưng khắp hoàn cầu người ta đã xem tuyết là biểu tượng của ngày Giáng Sinh kể từ khi châu Âu quyết định rằng Jesus là người Âu châu. Còn tệ hơn nữa cho đấng INRI,[1] trong thời đại hôm nay, sự ra đời của Jesus là một thương vụ làm ra những món tiền khổng lồ cho hạng thương nhân mà Jesus đã đuổi ra khỏi đền thờ.
Napoléon Bonaparte, người Pháp nhất của người Pháp, lại không phải là người Pháp.[2] Joseph Stalin, người Nga nhất của người Nga, lại không phải là người Nga;[3] và người Đức nhất của người Đức, Adolf Hitler, lại sinh ra tại nước Áo. Margherita Sarfatti, người đàn bà yêu quí nhất của Mussolini -- nhà độc tài thù ghét Do-thái -- lại là người Do-thái. José Carlos Mariátegui, người Marxist nhất của những người Marxist ở châu Mỹ La-tinh, lại nhiệt tâm tin vào Chúa Trời. Che Guevara trước kia đã bị quân đội Argentina không cho nhập ngũ vì họ khẳng định rằng ông hoàn toàn không đủ khả năng để sống như một quân nhân.
Từ đôi tay của một điêu khắc gia tên là Aleijadinho,[4] người xấu trai nhất của Brazil, những tác phẩm mỹ thuật vĩ đại nhất của Brazil đã được sinh ra. Người da đen Bắc Mỹ, dân tộc bị áp bức nhất trong mọi dân tộc, đã sáng tạo jazz, loại âm nhạc tự do nhất trong mọi loại âm nhạc. Don Quijote, người hiệp sĩ phiêu bạt nhất của mọi hiệp sĩ, đã thành hình trong tư tưởng của một tác giả đang bị cầm tù. Và thêm một nghịch lý tệ hại hơn nữa, Don Quijote chưa bao giờ thốt lên câu nói được thiên hạ truyền tụng nhiều nhất. Ông chưa bao giờ nói: "Những con chó đang sủa, Sancho ơi. Đã đến giờ ta lên ngựa." [5]
"Bạn có vẻ mất bình tĩnh," kẻ điên loạn nói. "Ghét anh ghê," cô gái đang yêu nói. "Đồng bạc không mất giá," ông Bộ Trưởng Kinh Tế nói vào đêm trước ngày đồng bạc mất giá. "Quân đội tôn trọng Hiến Pháp," ông Bộ Trưởng Quốc Phòng nói vào đêm trước ngày đảo chính.
Trong cuộc chiến chống lại lực lượng cách mạng Sandinista, chính quyền Mỹ tâm đầu ý hiệp một cách nghịch lý với Đảng Cộng Sản Nicaragua. Và, cuối cùng, những chiến luỹ của Sandinista dưới chế độ độc tài Somoza lại là một nghịch lý khác: những chiến luỹ ấy phong toả đường đi, nhưng mở ra lối thoát.


---------------------
Nguyên tác: “Paradojas”, trong Eduardo Galeano, El libro de los abrazos (Madrid: Siglo Veintiuno de España Editores, 5. ed edition, 1994) - ấn bản điện tử, trang 52-53.
 
tienve.org

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét